Nguồn gốc về người mường Thanh Hóa

Người Mường –  được các cứ liệu khoa học, các nhà nghiên cứu và đồng bào tự nhận về dân tộc mình từ xa xưa. Cũng như người Mường ở tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ, người Mường tỉnh Thanh Hoá có nguồn gốc từ người Việt cổ. Thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường; rất gần với tiếng Việt (có thể nói theo nghĩa tương đối 70 – 75%). Người Mường tỉnh Thanh Hoá có hai nhánh. Nhánh Mường cổ – Mường gốc – Mường ống từ huyện Bá Thước thường gọi là Mường trong; và một bộ phận di cư đến từ tỉnh Hoà Bình vào thường gọi là Mường ngoài.

Nhà sàn của đồng bào mường

Dân số người mường thanh hóa hiện nay là bao nhiêu?

 Người Mường tỉnh Thanh Hoá hiện nay có 364.622 người, chiếm gần 59% các dân tộc thiểu số trong tỉnh. Sống tập trung chủ yếu ở các huyện Ngọc Lặc – 94.676 người ; Thạch Thành – 76.106 người; Bá Thước – 53.046 người; Cẩm Thuỷ – 55.570 người; và một số xã miền núi giáp ranh các huyện Triệu Sơn, Thọ Xuân, Yên Định, Hà Trung.

Khám phá văn hóa cưới hỏi của người mường

Phong tục cưới hỏi xưa của người Mường

Cũng như các dân tộc khác, trong sinh hoạt văn hoá truyền thống, đám cưới cổ truyền là một hiện tượng văn hóa quan trọng của đời sống đồng bào Mường. Nêu như nhày xưa nghi Lễ cưới cổ truyền của thời trước thường phải trải qua rất nhiều phong tục và lễ nghi. Vì vậy cần phải tập trung nhân lực và tiền của cho một Lễ cưới .

Đám cưới người Mường thường không phải chỉ là một mình gia đình nhà trai, mà thường là cả họ nhà trai hợp sức vào. Có lẽ cũng vì vậy, mà tuy hôn nhân Mường trước đây không qui định theo chế độ một vợ, một chồng, nhưng hầu hết các cặp vợ chồng Mường là hôn nhân một vợ một chồng.

Theo như chúng tôi được biết thì cho đến nay việc cưới xin của người Mường cũng được cải tiến rất nhiều nhưng cơ bản nếu không có trục trặc gì thì để có thể nên vợ nên chồng phải trải qua 4 Giai đoạn:
  • Dạm hỏi 
  • Lễ ăn hỏi 
  • Ra mắt chồng 
  • Đám cưới 

Phong tục dạm ngõ trong đám cưới người mường

Theo như phong tục của người Mường cổ thì khi nhà trai có nhu cầu tìm vợ cho con trai mình, trước hết họ dứt phải tìm một người mai mối. Bà (hoặc ông) mối (tiếng Mường là ông mờ, bà mờ) thường là một người có họ gần bên nhà cô gái, là người biết ăn nói giỏi, có sức thuyết phục cũng như có uy tín trong vùng.
Đối với ông mối và bà mối thì phải là người có gia đình hoà thuận, con cái “có nếp, có tẻ”. Bà (ông) mối giữ vai trò hết sức quan trọng trong Lễ cưới cổ truyền Mường. Tất cả mọi thoả thuận, giao dịch giữa nhà trai và nhà gái từ đầu cho đến cuối diễn trình Lễ cưới cổ truyền Mường đều thông qua và dựa vào bà mối.
Sau khi chọn được người làm mối, họ nhà trai họp bàn với bà (ông) mối để định hướng, ngày giờ cũng như lễ vật cho việc xuất hành sang nhà gái. Việc chọn ngày do một người gọi là bố thày đảm nhiệm theo kiểu bói đá rò (còn gọi là bói rùa). Tháng 10 và tháng 4 âm lịch người ta không tổ chức Lễ cưới vì đó là tháng thướm – tháng kiêng.

Dạm hỏi người mường cần phải có những gì?

Ở trong lễ dạm hỏi nhà trai cần phải chuẩn bị được 4 chai rượu, 30kg Gạo, 1 Buồng cau, 80-100 Lá trầu, 1 Gói chè, 1 Gánh Bánh chưng, 2 gánh Bánh Dày (Bánh chưng hình vuông có kích cỡ khoảng 10cm x 10cm, cao 6 cm; bánh dày nhỏ bằng miệng bát cơm, nhưng những chiếc bánh trên cùng sọt bao giờ cũng phải đủ lớn để phủ hết miệng sọt. Các sọt đựng lễ này được đan bằng tre, là sọt mới, đường kính miệng sọt khoảng 40 cm x 40 cm và có chiều cao cũng như vậy)
Đối với nhà gái thì khi nhà trai đến phải tổ chức tiếp đón . Sau đó, nhà gái sẽ tiến hành đem chia quà của nhà trai cho tất cả các thành viên trong họ hàng (được tính tới 7 đời). Do phải chia cho cả họ, nên phần quà cho từng người cũng rất nhỏ bé, chỉ mang ý nghĩa tượng trưng. Chỉ có bà ngoại của cô dâu và Trưởng họ được chia phần nhiều hơn. Phần quà bé nhỏ được chia này còn như một thông điệp về tiến trình của Lễ cưới cổ truyền Mường.
Đó gần như là một lời mời cưới, tất cả những người nhận được quà đều phải đến đưa cô dâu về nhà chồng trong ngày lễ cưới. Rất ít khi có trường hợp nhà gái không đồng ý chàng rể tương lai. Nhưng nếu xẩy ra sự không đồng ý, nhà gái cũng sẽ từ chối khéo bằng cách “xin khất” chẳng hạn.

Lễ dạm hỏi – Phong tục cưới xin người mường

Nhà trai

Sau khi chọn ngày lành, tháng tốt họ nhà trai sẽ mang lễ vật sang nhà gái dưới sự hướng dẫn của bà/ông mối. Lễ vật cần phải được đặt trong các sọt đan bằng tre. Ở đây cũng như trong mọi nghi thức của Lễ cưới cổ truyền Mường, buộc bánh hoặc gói các lễ vật dẫn cưới bao giờ cũng là lạt đôi (sử dụng 2 lạt cùng một lúc), bánh dày hoặc bánh chưng bao giờ cũng là bánh chay (không có nhân) như một qui ước về sự trinh tiết của cô dâu tương lai.

Cũng như trên, toàn bộ lễ vật của nhà trai sẽ được đem chia cho tất cả các thành viên trong họ tộc nhà gái.

Có thể nói dạm hỏi cũng là một hình thức đưa tặng lễ vật – đi “nòm”, nhưng là lần “nòm” lớn nhất, đây còn được gọi là lần “nòm cả”. Để tiến hành “ti nòm” (ăn hỏi), nhà trai cũng phải chọn ngày lành, tháng tốt cho khỏi ảnh hưởng tới hôn sự của con cái sau này.

Lễ ăn hỏi của một Lễ cưới cổ truyền ở Mường Vang thường gồm:

  • – Một con lợn khoảng 60 kg.
  • – Một gánh gạo khoảng 30 kg.
  • – Một gánh bánh chưng khảng 20 cặp.
  • – Một gánh rượu 40 lít.
  • – Một gánh trầu lá (80- 120), cau quả (1 buồng).

Nhà gái

Vào cuối lễ ăn hỏi, nhà gái sẽ đưa ra yêu sách “cách của” (cách của tiếng Mường có nghĩa là thách cưới) đối với nhà trai. Thường thì nhà trai nhận lời ngay, tránh nói qua nói lại xin giảm một thứ lễ vật nào đó. Vì họ sợ rằng nhà gái sẽ tự ái và cho đó là sự “mà cả” mua bán. Nếu thấy yêu cầu của nhà gái cao quá, nhà trai lại nhờ bà/ông mối (“mờ”) đến đàm phán sau lễ ăn hỏi để xin rút hoặc khất

Từ sau lễ ăn hỏi, cô dâu tương lai đã bắt đầu phải chuẩn bị đồ “hồi môn” mang về nhà chồng (trên thực tế đồ hồi môn này được chuẩn bị sẵn ngay từ lúc một bé gái trở thành một thiếu nữ, khoảng 11-13 tuổi). Thường cô dâu khi về nhà chồng sẽ tặng bố mẹ chồng chăn, gối, đệm. Trong các chuyến đi nghiên cứu, khảo sát của mình, chúng tôi thấy các cô dâu tương lai thường dành hàng năm trời bên khung cửi để tự tay dệt chăn, đệm, gối cho ngày cưới của mình. Ngoài chăn, gối, đệm do cô dâu (hoặc nhà gái) làm, của hồi môn của cô dâu về nhà chồng có thể kèm theo các đồ trang sức bằng bạc, hoặc tiền mặt. Người Mường không dùng đồ trang sức bằng vàng.

Tuy nhiên, cô dâu không mang của hồi môn về nhà chồng ngay sau khi cưới, mà thời gian cô dâu mang của hồi môn về nhà chồng, theo truyền thống trước đây, thường là sau khi đã có con đầu lòng

Lễ ra mắt – Phong tục cưới hỏi

Thông qua bà/ông mối, nhà trai và nhà gái thoả thuận về thời gian nhà trai làm Lễ ra mắt chàng rể ở nhà gái. Trước khi mang đồ sang làm Lễ ra mắt chàng rể ở nhà gái, nhà trai bao giờ cũng phải tổ chức một bữa ăn cho các thành viên trong đoàn gồm họ hàng và bà/ông mối. Bữa ăn được tổ chức tuỳ theo kinh tế của nhà trai, nhưng thường chỉ gồm các món ăn thông thường như: chả xương (lợn) băm bọc lá xương xông nướng, giò, nem chua thanh hóa, đậu phụ rán, chả nướng (thịt xiên que nướng), xôi, thịt và lòng lợn luộc . . .

Thành phần tham gia đoàn của nhà trai sang nhà gái gồm: bà mối, 2 ông bố là người trong họ nội, ngoại (bố già tuổi trên 60 và bố non tuổi dưới 60), anh em con cháu của nhà trai, chàng rể tương lai và phù rể (piêng).

Lễ vật trong Lễ ra mắt chàng rể gồm có:

  • – Một vò rượu cần.
  • – Hai đôi cây mía (cứ hai cây mía bó thành một đôi).
  • – Một gánh gồm 40 lá trầu và một buồng cau nhỏ.
  • – Một con lợn sống khoảng 60 kg.

Theo truyền thống thì cho đến lúc này mới có sự xuất hiện của chàng rể trước họ nhà gái. Khi nhà trai mang lễ vật sang đến nơi, nhà gái mở tiệc thết mừng sự có mặt của họ nhà trai. Sau đó, họ nhà gái làm Lễ cúng tổ tiên và nhận con rể

Phong tục đặc biệt

Cũng có khi, trước Lễ đón dâu còn có nghi thức thách cưới (“cách của”) và thoả thuận ngày cưới. Ngày cưới lúc này được tính theo nhà trai và thường chưa chính xác, thường là trong một khoảng thời gian giả định nào đó. Việc thách cưới của họ nhà gái tiến hành thông qua bà/ông mối và các bậc cha chú của chú rể. Thường thì khi nhà trai sang đến nơi, nhà gái sẽ mời nhà trai ăn cơm cùng họ tộc. Trong khi ăn cơm, đại diện nhà trai được mời ngồi ở nơi trang trọng nhất gồm có Trưởng tộc nhà gái và bà mối. Nhà gái sẽ trình bày các yêu cầu của mình và đồ thách cưới nhà gái yêu cầu thường là:
  • – Một con trâu nhỏ, tai (dài) bằng sừng. Nếu không có trâu thì phải thay bằng tiền hoặc đồ vật có giá trị tương đương.
  • – Một gánh bánh dày không nhân (ám chỉ sự trinh trắng của cô dâu).
  • – Một ít tiền (có thể chỉ để làm của hồi môn cho cô dâu sau này khi về nhà chồng).
  • – Một vò rượu cần hoặc 60 lít rượu.
  • – 60 kg gạo tẻ.
  • – 40 kg gạo nếp.
  • – Một gánh trầu cau.

Đám cưới – Phong tục cưới hỏi của người Mường

Sau biết bao nhiêu trắc trở thì những đôi bạn trẻ mới có thể đến được với nhau. Trong khi lễ  cưới được diễn ra thì cô dâu và phù dâu khi về nhà chồng bao giờ mỗi người cũng phải cầm theo một con dao nhỏ khi đi đường. Con dao nhỏ này có cán bằng sừng hoãng hoặc bằng nanh hổ. Con dao này được người Mường quan niệm như bùa hộ mệnh để khi đi đường luôn gặp mọi sự may mắn, chống lại mọi thú dữ và ma quỉ trên đường đi.

Đối với Phù dâu và Phù Rể thường phải là người chưa lập gia đình, biết ăn nói giỏi và nhan sắc thường kém cô dâu để làm nổi bật vẻ đẹp của cô dâu trong ngày cưới.. Dân gian Mường có câu “Chẩu buông klu, du lại mặt” có nghĩa là “Làm rể vào buổi trưa, làm dâu vào buổi tối”. Do đó hai họ sẽ phải tính toán thời gian đi đường sao cho khi đón dâu về đến nhà vào lúc trời chạng vạng tối.

Đoàn đưa dâu về nhà chồng ngoài bà mối cũng còn có hai bố: bố khà (tức là bố già trên 60 tuổi) và bố non (tức là bố trẻ dưới 60 tuổi), hai mẹ: mẹ già và mẹ non. Bố mẹ cô dâu không đưa con gái sang nhà chồng. Bố già và bố non bao giờ cũng là những người rất giỏi đối đáp và có khả năng hát đối đáp.

Người Mường rất coi trọng lời ăn, tiếng nói, do đó cũng rất coi trọng người biết ăn nói có duyên. Người Mường thường nói: “Thiếu gì nước trong giếng, thiếu gì tiếng trong mồm mà không nói ra cho vừa lòng nhau”.

Trong đám cưới cổ truyền của người Mường, người ta rất coi trọng việc trao đổi qua lại thông qua lời ca, tiếng hát. Ở đây cũng cần chú ý một đặc điểm của dân ca Mường là rất chú trọng đến phần lời ca mang tính ngẫu hứng. Do đó, người hát giỏi bao giờ cũng phải là người có tài ứng đối nhanh trên những giai điệu nhất định mang tính đặc trưng không chỉ về phương diện trật tự sắp xếp các âm thanh của dân ca Mường mà còn ở cả cách thay đổi các từ đồng nghĩa.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here